Buổi sáng giữa tháng 10 , căn phòng nhỏ ở phường Phú Hội ( TP Huế , Thừa Thiên - Huế ) đều đều vang lên tiếng học trò phát âm ngọng lưỡi. Ngồi trên xe lăn , cô Trần Phương Liên ( 56 tuổi ) cầm phấn viết lên bảng những từ mới vừa đọc mẫu. Thỉnh thoảng , cô lại cầm thước gõ trên bàn , bắt nhịp cho học trò đánh vần.
Học sinh của lớp chủ yếu là các em cấp 2 , cấp 3 , sinh viên đại học , người sắp sang Nhật du học , công chức công ti liên doanh với Nhật... Sau khi chỉ dẫn mọi người nội dung bài học , cô Liên lại đi xe lăn đến từng bàn để chỉ bảo cho từng học trò. Cô luôn nở nụ cười dù từng vòng xe lăn thấm đẫm những giọt mồ hôi.
Ca học kết thúc , cả lớp đứng lên vòng tay chào cô Liên bằng tiếng Nhật rồi gấp gấp ra về. Cô lại lăn những vòng xe sắp đặt bàn ghế , thu dọn những miếng giấy vụn để để sẵn cho ca học tiếp theo. "Lớp học và các học trò là tài sản quý giá nhất mà tôi có" , cô Liên tâm sự.
Để có được niềm vui như bây chừ , cô Liên đã phải trải qua nhiều thử thách. Là người gốc Huế , nhưng cô Liên sinh ra ở Hải Phòng và lớn lên ở Hà Nội. Năm lên 4 tuổi , đôi chân cô bị liệt sau trận ốm dài ngày.
Đất nước hợp nhất , cô hành lí theo ba mẹ về Huế học và tốt nghiệp trường Đồng Khánh ( nay là THPT Hai Bà Trưng , TP Huế ). Đi tới trước lại có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn nhưng nữ sinh này vẫn đi xe lăn thi đại học và trở nên sinh viên khóa 1 của khoa Văn - Sử ĐH Tổng hợp Huế. Năm 1981 , Phương Liên tốt nghiệp ngành Sử học.
Lục giở lại những tấm ảnh thời sinh viên , cô Liên kể: "Bước ngoặt thế cục tôi có lẽ là năm 1993 , khi tôi hay tin một lớp Nhật ngữ do chính người Nhật dạy tại Huế tuyển 20 học viên. Tôi bắt đầu tìm tòi sách vở ôn luyện , cộng với vốn tiếng nước ngoài từ thời học phổ thông và đại học tôi quyết tâm nộp hồ sơ đăng kí dự thi. Thế nhưng , chỉ vì đôi chân liệt mà tôi chẳng thể tới lớp học , tôi buồn bã trở về với nghề nghiệp bán buôn bên vệ đường".
Một thời kì sau , 2 người Nhật tìm đến nhà thắc mắc tại sao cô không tới lớp học. Thông thạo cô đi lại khó khăn , các giáo viên người Nhật đã tự nguyện thay nhau đến nhà dạy học. Sau hai năm , khóa học kết thúc , cô chủ động giao thông với các giáo viên của mình tại Nhật để tiếp chuyện tích lũy và hoàn thiện vốn ngoại ngữ.
Năm 1996 , cô Liên vừa học vừa nhận dịch sách , thư... từ tiếng Nhật sang tiếng Việt. Ngoại giả , cô còn nhận dạy kèm một đôi học trò có nhu cầu học tiếng Nhật. Do chất lượng dạy tốt nên lớp của cô ngày một đông.
Nghị lực sức mạnh siêu nhân và vốn tri thức rộng của cô Liên đã được người Nhật biết đến. Hưng thịnh người Nhật khi tới Việt Nam làm ăn , sinh sống đã tìm đến lớp của cô Liên để học tiếng Việt cũng như văn hóa Huế và Việt.
Em Đinh Thị Phương Hoài theo học ở lớp tiếng Nhật của cô Trần Phương Liên hơn 2 năm nay. Hoài cho biết , tiếng Nhật rất khó học nhưng vì cô Liên rất thông hiểu tiếng nước ngoài này cũng như cách dạy tận tình nên các bạn hấp thụ rất nhanh. "Từ khi đến lớp của cô Liên , ngoài việc học được vốn tiếng Nhật , em cũng như các bạn còn học được ở cô sự kiên trì , chịu thương chịu khó , biết bỏ quá mọi mặc cảm trong cuộc sống để bền bỉ thực hiện nhằm đạt tới mục đích cao đẹp đã đề ra vươn lên" , Hoài chia sẻ.
Bà Nguyễn Thị Thanh Lê , chú tâm hội liên hợp phụ nữ phường Phú Hội , cho biết , cô Trần Phương Liên là tấm ngh 3 về nghị lực vượt khó. Mặc dù không được lành lẽ , đi lại rất có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn nhưng cô đã vươn lên , dùng hết khả năng dạy dỗ học sinh. "Lớp học tiếng Nhật của cô đã trở nên thương hiệu đối với học trò trong cũng như ngoài tỉnh. Cô cũng đã góp phần rất lớn trong việc mang văn hóa Huế , văn hóa Việt Nam đến với người Nhật" , bà Lê nhấn mạnh.
Sau giờ dạy học , cô Liên lại tự mình lo chuyện chợ búa , nấu ăn , chăm sóc xuân huyên già.
Trần Văn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét